Thống kê truy cập
Số lượt truy cập :    1848831
TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG MA TÚY



PHẦN I: NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ MA TÚY,  NGHIỆN MA TÚY VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY
    I. Nhận thức chung về ma túy
    1/ Ma túy là gì?
    Năm 1988, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa: “Ma túy là bất kỳ một dạng chất nào, khi đưa vào cơ thể làm thay đổi trạng thái ý thức và hành vi như là kết quả tác động của chất đó lên hoạt động của não”.
    Khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống ma túy quy định: “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành”.
    Tại Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất quy định 235 chất ma túy được đưa vào danh mục quản lý và được phân chia thành 3 danh mục:
    Danh mục I “Các chất tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội; việc sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền”: có 45 chất.
    Danh mục II “Các chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền”: có 121 chất.
    Danh mục III “Các chất hướng thần được dùng trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền”: có 69 chất.
    Ngày 09/12/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 126/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất đã bổ sung thêm 15 chất vào Danh mục II “Các chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền”.
    Như vậy, hiện nay ở nước ta có 250 chất ma túy được đưa vào danh mục quản lý và được phân chia thành 3 danh mục, trong đó, chất ma túy được sử dụng hợp pháp trong một số trường hợp theo quy định của cơ quan có thẩm quyền. Luật phòng, chống ma túy nghiêm cấm việc sử dụng trái phép các chất ma túy.
    2/ Phân loại các chất ma túy
    Có nhiều chất ma túy khác nhau, song tác hại của mỗi chất ma túy gây ra đối với người sử dụng, cũng như mức độ phổ biến ở từng nước, khu vực rất khác nhau. Vì vậy tìm hiểu về chất ma túy theo cách phân loại các chất này là cơ sở để nhận biết và nắm vững được tác hại của từng loại ma túy.
    Hiện nay, trên thế giới có nhiều cách phân loại các chất ma túy, song phổ biến nhất vẫn là 2 cách sau:
    - Cách 1: Phân loại theo nguồn gốc, xuất xứ.
    Theo cách phân loại này, chất ma túy được chia làm 03 nhóm, đó là:
    + Ma túy có nguồn gốc tự nhiên: là chất được chiết xuất từ các thành phần khác nhau của một số loại cây như: anh túc (cây thuốc phiện), cần sa, cây cô ca, v.v.
    + Ma túy bán tổng hợp: Là loại ma túy được tổng hợp một phần từ một số loại ma túy có nguồn gốc tự nhiên, như: Móc-phin, heroin, v.v..
    + Ma túy tổng hợp: Là tên gọi của một nhóm các chất ma túy không hề có trong tự nhiên; chúng được tổng hợp từ các loại hóa chất (các hóa chất này được gọi là tiền chất).
    - Cách 2: Phân loại theo tác động của chất ma túy lên cơ thể người sử dụng. Theo cách phân loại này, chất ma túy được chia làm 03 nhóm sau:
    + Các chất ma túy gây ức chế: Đây là các chất mà khi được đưa vào cơ thể, chúng làm chậm tốc độ dẫn truyền các xung động thần kinh lên não người sử dụng, làm cho người sử dụng có cảm giác tỉnh táo song chân tay không muốn cử động do máu dồn ra khu vực ngoại biên. Ví dụ: Thuốc phiện, Heroin, cần sa, các loại thuốc ngủ (secobarbital, immenoctal), thuộc an thần kinh (benzodiazepine, seduxen, mekohexen).
    + Các chất kích thích: Chủ yếu gồm các loại ma túy tổng hợp ATS (amphetamine type stimulans) và Cocain. Khi sử dụng, các chất này làm gia tăng tốc độ dẫn truyền các xung động thần kinh. Người sử dụng cảm thấy hưng phấn, tự tin, thích tranh luận song sau đó là sự mệt mỏi về thể xác và bạc nhược về tinh thần.
    + Các chất gây ảo giác: Là nhóm các chất ma túy làm cho người sử dụng cảm nhận một cách sai lệch, méo mó các thông điệp về hình ảnh, màu sắc, âm thanh, v.v.. khi đến não.
    3/ Một số loại ma túy phổ biến
    a. Cần sa
    Cần sa thuộc nhóm gây ức chế và hoang tưởng nhẹ. Lá, ngọn, hoa cần sa được phơi khô và hút như thuốc lá; nhựa và tinh dầu cần sa được sử dụng bằng cách chích hoặc tẩm vào các điếu thuốc để hút.
    Sau khi sử dụng cần sa, người sử dụng có cảm giác sảng khoái, nhẹ nhõm, đầu óc lâng lâng nhưng chân tay nặng nề, khó cử động do máu dồn ra ngoại biên. Đồng thời xuất hiện các dấu hiệu như giảm khẩu vị, hạ huyết áp, suy giảm trí nhớ ngắn hạn, lo lắng, căng thẳng, v.v... Ở một số người còn xuất hiện các biểu hiện khác thường như vô cớ cười khúc khích hoặc nhai tóp tép.
    Nếu sử dụng liều cao, sẽ xuất hiện các dấu hiệu loạn thần. Tình trạng loạn thần sẽ tăng cao nếu sử dụng cần sa cùng với các loại ma túy tổng hợp. Đối với những người có tiền sử bệnh trầm cảm, bệnh tâm thần thì khi sử dụng cần sa sẽ có nguy cơ tái phát. Theo thời gian, sử dụng cần sa sẽ làm suy giảm hệ thống miễn dịch, giảm nhu cầu tình đục.
    b. Cocain
    Cocain được tìm ra từ năm 1825, là ankaloit (một loại axit amin) có trong lá cây côca, được trồng nhiều ở các nước Nam Mỹ. Nhìn bên ngoài, cocain có dạng bột trắng hoặc kết tinh.
    Người ta thường sử dụng cocain bằng cách hít, chích, uống hoặc chà xát trên nướu răng. Sau khi sử dụng, người cảm thấy sảng khoái, tự tin, tỉnh táo hơn; kèm theo các dấu hiệu tim đập nhanh, tăng thân nhiệt, giảm khả năng tập trung, buồn nôn, ham muốn tình dục. Ở liều cao, xuất hiệu các rối loạn tâm thần như: bồn chồn, lo lắng, có thể dẫn đến cao huyết áp, xuất huyết não, suy thận, nhồi máu cơ tim, trụy tim mạch, đặc biệt là đối với những người mắc các bệnh mạn tính về hệ tim mạch.
    c. Thuốc phiện
    Là nhựa từ quả của cây thuốc phiện được cô đặc. Thuốc phiện được sử dụng bằng cách hút, uống, tiêm chích. Người sử dụng có cảm giác lâng lâng, hưng phấn, giảm đau nhức hoặc mất cảm giác mệt mỏi. Dần dần người sử dụng sẽ bị lệ thuộc, thiếu ma túy không chịu được. Người nghiện bị suy sụp, mất hết nghị lực, ý chí, mất ham muốn tình dục, mất cảm giác thèm ăn và bị suy kiệt nặng, đồng thời, các triệu chứng rối tiêu hóa như táo bón thường xuất hiện dai dẳng, kéo dài.
    d. Móc-phin
    Móc-phin được tìm ra vào năm 1806 bằng cách điều chế từ thuốc phiện (trong nhựa thuốc phiện chứa khoảng 30% Móc-phin). Trong lĩnh vực y tế, Móc-phin được dùng như một thứ thuốc giảm đau. Tuy nhiên, khi bị lạm dụng, Móc-phin trở thành một chất ma túy nguy hiểm vì có mức độ gây nghiện gấp hàng chục lần thuốc phiện.
    Người nghiện Móc-phin có dấu hiệu mắt bị phù nề, móng tay và môi thâm tím, phát hiện các rối loạn tâm lý; có biểu hiện dối trá, bất minh về thời gian. Người nghiện ít chú ý đến vệ sinh thân thể, lười biếng. Sử dụng lâu ngày sẽ rơi vào tình trạng suy sụp về thể lực, trầm cảm.
    e. Heroin
    Heroin là một chất bán tổng hợp từ thuốc phiện có đặc tính gây nghiện mạnh gấp 100 lần thuốc phiện. Heroin tinh khiết thường có dạng bột màu trắng hoặc vàng nhạt như đường hoặc caphein, được sử dụng chủ yếu bằng cách hút, hít hoặc chích. Sau khi sử dụng, người ta có cảm giác êm ái, dễ chịu, quên hết buồn phiền, đau đớn. Theo thời gian, mức độ lệ thuộc vào heroin ngày càng tăng lên, buộc người nghiện phải tăng liều mới đáp ứng nhu cầu tạo khoái cảm.
    Khi đã bị lệ thuộc, người nghiện heroin mất cảm giác thèm ăn, cơ thể trở nên gầy gò, ốm yếu do suy kiệt, mất ham muốn tình dục, v.v... Người nghiện heroin rất dễ bị sốc do sử dụng lượng ma túy quá ngưỡng cho phép. Tình trạng quá liều thường gặp trong các tình huống khi người nghiện ma túy không kiểm soát được hàm lượng ma túy, đồng thời sử dụng các loại ma túy khác nhau, sử dụng lại ma túy sau một thời gian ngừng sử dụng hoặc người nghiện đang được điều trị thay thế bằng methadone hoặc tham gia điều trị bằng naltrexone.
    f. Methamphetamine
    Methamphetamine là loại ma túy tổng hợp thuộc nhóm kích thích, được điều chế dưới dạng viên và tinh thể.
    Methamphetamine dạng viên có mầu hồng thường được gọi là Hồng phiến. Mỗi viên Hồng phiến thường chứa khoảng 20 - 25% methamphetamine nguyên chất còn lại là các chất độn như caphein, tinh bột, phẩm màu, v.v... Methamphetamine dạng viên được sử dụng bằng cách uống.
    Methamphetamine dạng tinh thể được gọi là “Ma túy Đá” vì nhìn óng ánh, dưới kính có độ phóng đại cao, trông giống cục nước đá, gồm những mảnh vụn li ti, gần giống với hạt mì chính. Methamphetamine dạng tinh thể có độ tinh khiết lên đến 98-99%. Methamphetamine dạng tinh thể, được sử dụng bằng cách hít trực tiếp qua mũi (sau khi được nghiên nhỏ) hoặc hút gián tiếp qua một bình lọc đựng nước (đập đá). Ở một số nước, người nghiện có thể hòa Methamphetamine dạng tinh thể vào nước để chích trực tiếp vào máu.
    Khi mới sử dụng, Methamphetamine tạo cảm giác hưng phấn, tỉnh táo, kích thích ham muốn tình dục. Do tạo ra một sức mạnh giả tạo mà người sử dụng Methamphetamine có thể làm được các công việc nặng nhọc trong thời gian dài, hăng hái tranh luận hoặc có các cử chỉ, hành động mạnh như đua xe. Tuy nhiên, sau đó họ sẽ bị rơi vào trạng thái suy nhược cả về thể xác lẫn tinh thần. Người sử dụng thấy mệt mỏi, chán nản, dễ cáu giận và trầm cảm. Nếu sử dụng thường xuyên hoặc sử dụng liều cao sẽ nhanh chóng xuất hiện các rối loạn như: mất ngủ hoặc ngủ li bì, rối loạn hệ thần kinh, loạn thị, suy nhược cơ thể, giảm sức đề kháng.
    Khi sử dụng liều cao hoặc đối với những người có tiền sử bệnh tim mạch, Methamphetamine có thể gây thiếu máu não hoặc trụy tim mạch.
    Mặc dù âm thầm, không vật vã như nghiện heroin nhưng Methamphetamine gây nghiện dai dẳng và tàn phá sức khỏe ghê gớm. Nhiều người lầm tưởng là loại ma túy này không gây nghiện, hết dùng thì không lâm vào hội chứng cai (Hội chứng cai ma túy là trạng thái phản ứng của cơ thể khi giảm chất ma túy đang sử dụng ở những người nghiện ma túy. Biểu hiện lâm sàng của hội chứng cai khác nhau phụ thuộc vào loại ma túy, sử dụng. Nét đặc trưng của hội chứng cai ở người nghiện heroin hiện các triệu chứng sau: cảm giác thèm ma túy; ngạt mũi hoặc hắt hơi; chảy nước mắt; đau cơ hoặc chuột rút; co cứng bụng; buồn nôn; tiêu chảy; giãn đồng tử; nổi da gà hoặc ớn lạnh; nhịp tim nhanh hoặc tăng huyết áp; ngủ không yên), song thực chất với đặc tính kích thích kèm theo gây ảo giác người sử dụng loại ma túy này thường rơi vào trạng thái rối loạn hành vi dẫn đến tự sát hoặc giết người vô thức.
    h. Thuốc lắc (Ecstacy)
    Ecstacy cũng là một trong các loại ma túy tổng hợp thuộc nhóm kích thích, thường được sản xuất dưới dạng viên nén với nhiều màu sắc bắt mắt và có hình lô-gô trên bề mặt.
    Từ những năm 1990, Ecstacy đã bắt đầu được sử dụng phổ biến trong giới trẻ ở nhiều nước trong các bữa tiệc liên hoan, sinh nhật hoặc trên sàn nhảy. Khi mới sử dụng, Ecstacy tạo khoái cảm, tự tin. Tuy nhiên, sau đó nó làm cho người sử dụng trở nên suy nhược về cả thể chất và tâm lý. Cùng với tác động kích thích, Ecstacy còn gây ra các rối loạn tâm thần, làm suy giảm trí nhớ, lẫn lộn về nhận thức. Cũng như các loại ma túy thuộc nhóm kích thích khác, nếu người sử dụng lại có tiền sử về bệnh cao huyết áp, Ecstacy có thể gây nhồi máu cơ tim, xuất huyết não.
    g. LSD
    LSD là loại ma túy gây ảo giác mạnh nhất được loài người biết đến từ trước đến nay; được điều chế từ một loại nấm mọc trên cây lúa mạch ở khu vực Trung Á. Các đối tượng buôn bán thường tẩm chất LSD vào tờ giấy để bán. Người sử dụng xé giấy tẩm này để dưới lưỡi gọi là dán tem. Sau khi sử dụng khoảng 30 phút, người đó sẽ bị nhấn chìm vào một thế giới mà các vật liên tục thay đổi hình dạng: đang ngồi mà nghĩ là đang đứng; đứng mà nghĩ là đang bay bổng.
    h. Một số chất hướng thần mới khác
    - Ketamin là chất hướng thần mới bị lạm dụng. Đây thực chất là một loại thuốc dùng gây mê nội khí quản. Người nghiện ma túy (chủ yếu là giới trẻ) sử dụng Ketamin thay thế thuốc lắc (Ecstasy). Ketamine tạo cảm giác lâng lâng, sảng khoái tương tự khi sử dụng Ecstacy và nếu sử dụng cùng với Ecstacy sẽ cho cảm giác “phê” kéo dài hơn.
    Ketamine thường xuất hiện trên thị trường ma túy bất hợp pháp dưới dạng viên màu trắng, bột màu trắng có mùi thơm dịu hoặc dạng dung dịch không màu.
    - Thời gian gần đây đã xuất hiện nhiều loại chất hướng thần mới được quảng bá là có nguồn gốc thảo dược, không gây nghiện, ít độc hại song thực chất nhiều loại được tổng hợp từ phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích sinh trưởng của cây hoặc thức ăn tổng hợp cho gia súc rất nguy hại. Chủng gồm nhiều loại với nhiều tên khác nhau, như: Cần sa tổng hợp (Synthetic Cannabinoids), Piperazines, Mephedrone, Bột tắm, v.....
    i. Một số các loại chất gây nghiện khác đáng chú ý
    Mặc dù không có trong danh mục các chất ma túy, nhưng hiện nay có hơn 200 chất thơm, dễ bay hơi (chủ yếu là các loại dung môi có trong keo dán, ét - xăng, a-xê-tol, v.v...) đang bị một bộ phận thanh niên lạm dụng bằng cách hít, ngửi. Khi bị lạm dụng, các chất này cũng gây nghiện và khó cai không khác gì với các loại ma túy. Người nghiện bị suy giảm trí nhớ nghiêm trọng và trở thành những người đần độn. Việc cai nghiện cho những người nghiện các loại chất thơm này cũng rất khó khăn.
    II. Nghiện ma túy
    1/ Khái niệm nghiện ma túy
    Nghiện là tình trạng lệ thuộc về thể chất và tâm lý của một người vào một chất do sử dụng chất đó thường xuyên, liên tục hoặc trong một thời gian dài.
    Về mặt y học, nghiện ma túy được coi là một bệnh mãn tính của não và có thể hồi phục nếu được điều trị. Tuy nhiên, do là bệnh mãn tính nên nghiện có thể tái diễn như các căn bệnh mãn tính khác, ví dụ: tiểu đường, tim mạch, hen xuyễn, v.v.
    Nghiện ma túy là một quá trình. Bắt đầu từ “dùng thử” do tò mò. Sau khi “dùng thử”, người đó có thể không sử dụng nữa do không có điều kiện để tiếp tục sử dụng hoặc do cảm thấy không phù hợp. Tuy nhiên, một số người sẽ tiếp tục sử dụng và khi tần suất sử dụng thường xuyên hơn người đó sẽ dần bị lệ thuộc vào ma túy. Khi không có ma túy sẽ thấy thèm nhớ, khó chịu. Theo thời gian, mức độ lệ thuộc vào ma túy tăng lên và trở thành nghiện.
    2/ Đặc trưng của người nghiện ma túy
    Tùy thuộc vào loại ma túy và thời gian sử dụng cũng như thể chất của từng người mà người nghiện ma túy có các dấu hiệu đặc trưng khác nhau. Tuy nhiên, người nghiện ma túy thường có một số dấu hiệu đặc trưng sau:
    + Thèm muốn ma túy mãnh liệt;
    + Mất khả năng kiểm soát việc sử dụng ma túy;
    + Ngừng sử dụng ma túy sẽ xuất hiện hội chứng cai (lên cơn nghiện);
    + Liều ma túy sử dụng ngày càng tăng;
    + Dần sao nhãng nhiệm vụ và các thích thú khác;
    + Biết tác hại mà vẫn tiếp tục sử dụng ma túy.
    3/ Những dấu hiệu nhận biết người sử dụng chất ma túy
    Người sử dụng chất ma túy thường có một số dấu hiệu nổi bật như sau:
    - Thay đổi bất thường giờ giấc sinh hoạt: thức khuya, đêm ít ngủ, dậy muộn, ngày ngủ nhiều, ăn uống thất thường,...
    - Hay tụ tập đàn đúm với những người sống buông thả, không có công ăn việc làm, không lao động hoặc chơi thân với người nghiện.
    - Đi lại có quy luật: mỗi ngày, cứ đến một giờ nhất định nào đó dù có đang bận việc cũng tìm cách, kiếm cớ để đi ra khỏi nhà.
    - Thích ở một mình, ít hoặc ngại tiếp xúc với mọi người, kể cả người thân trong gia đình.
    - Tâm trạng lo lắng, bồn chồn, đôi khi nói nhiều, hay nói dối quanh, hay có biểu hiện chống đối, cáu gắt hơn trước đây.
    - Hay ngáp vặt, sụt cân, xanh xao; người mệt mỏi, không chịu lao động; không chăm lo vệ sinh cá nhân. Nếu đi học sinh thường đi học muộn, trốn học, bỏ giờ học, ngồi trong lớp hay ngủ gật, học lực giảm sút.
    - Nhu cầu tiêu tiền ngày một nhiều, thường xuyên xin tiền người thân; hay bán đồ đạc cá nhân và của gia đình, nợ nần nhiều, ăn cắp vặt...
    - Túi quần áo, cặp sách, phòng ở thường có giây bạc thuốc lá, kẹo cao su, bật lừa ga, bơm kim tiêm, ống thuốc.
    - Có dấu hiệu tiêm trên mu bàn tay, cổ tay, mặt, trong mắt cá chân, ở bẹn, ở cổ,...
    4/ Nguyên nhân dẫn đến sử dụng chất ma túy
    Có thể chia thành 3 nhóm nguyên nhân sau :
    - Nguyên nhân từ bản thân
    + Mải chơi, đua đòi muốn chứng tỏ mình là người sành điệu;
    + Tò mò, bị kích động;
    + Bạn bè rủ rê, lôi kéo thấy “hay” thì tham gia thử;
    + Tâm lý chưa ổn định, thiếu tự tin, dễ dao động;
    + Dễ bị rơi vào các trạng thái quá khích: ức chế hoặc hưng phẩn quá độ;
    + Thất nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn định dẫn đến tâm lý chán chường;
    + Do lạm dụng các thuốc giảm đau khi chữa bệnh hoặc có vấn đề sức khỏe tâm thần.
    + Muốn vui vẻ, thỏa mãn trí tò mò, thích mạo hiểm; muốn làm dịu bớt nỗi đau, cảm thấy mình là người lớn, tỏ ra độc lập, muốn thuộc về một nhóm nào đó.
    - Nguyên nhăn từ gia đình
    + Không khí gia đình không hòa thuận, cha mẹ có môi quan hệ phức tạp như: ly thân, ly hôn, nghiện ma túy, buôn bán ma túy hoặc tham gia vào các tệ nạn xã hội khác (cờ bạc, mại dâm).
    + Gia đình có điều kiện kinh tế khá giả, nuông chiều thái quá để con em có điều kiện giao du, chơi bời quá trớn.
    + Quá chú trọng đến vấn đề làm ăn, buông lỏng quản lý, ít quan tâm đến con cái; xao lãng trách nhiệm giáo dục, hướng dẫn con em, ỷ lại, giao khoán việc giáo dục con em cho nhà trường và xã hội.
    - Nguyên nhân từ xã hội
    + Do tội phạm về ma túy hoạt động rất tinh vi, chúng luôn tìm mọi cách dụ dỗ, lôi kéo thanh thiếu niên sử dụng ma túy;
    + Một số người nghiện thiếu tiền mua ma túy sẽ dễ tiếp tay, rủ rê, dụ dỗ, lôi kéo, ép buộc người khác sử dụng ma túy để bán ma túy kiếm tiền;
    + Thanh thiếu niên sống gần môi trường có nhiều cám dỗ của ma túy; gần những nơi có buôn bán ma túy bị lôi kéo vào con đường sử dụng ma túy;
    + Thiếu sân chơi lành mạnh cho nhu cầu vui chơi, giải trí của thanh thiếu niên nên các em phải tìm đến các địa điểm tự do. Tại đây, các em dễ bị sa ngã và đi vào con đường nghiện ma túy.
    + Phong trào phòng ngừa, lên án, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma túy chưa đủ mạnh, không tạo khí thế trấn áp tội phạm ma túy để tệ nạn ma túy lây lan phát triển.
    5/ Tác hại của nghiện ma túy
    Tác hại của nghiện ma túy được thể hiện dưới 3 khía cạnh:
    - Đối với bản thân người nghiện: Nghiện ma túy gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người nghiện, có thể dẫn đến nhiễm độc mãn tính cho cơ thể, gây ra rối loạn ở từng bộ nhận đến suy nhược toàn thân của người nghiện.
    + Đối với hệ tiêu hóa: Người nghiện luôn có cảm giác chán ăn, thường có cảm giác buồn nôn, đau bụng, đại tiện lúc lỏng, lúc táo bón;
    + Đối với hệ hô hấp: Các chất ma túy kích thích hô hấp gây tăng tần số thở trong thời gian ngắn, sau đó sẽ gây ức chế hô hấp, nhất là khi dùng quá liều. Nhiều trường hợp ngưng thở nếu không cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong, đôi khi ngưng thở rất đột ngột.
    + Đối với hệ tim mạch: Các chất ma túy sẽ kích thích làm tăng nhịp tim, ảnh hưởng trực tiếp lên tim, gây co thắt mạch vành tạo nên cơn đau thắt ngực, nặng hơn có thể gây nhồi máu cơ tim. Chúng cũng là nguyên nhân của các rối loạn nhịp đe dọa tính mạng người dùng ma túy. Ngoài ra còn gây nên tĩnh trạng co mạch làm tăng huyết áp.
    + Đối với hệ thần kinh: Khi ma túy vào cơ thể sẽ tác động trực tiếp lên hệ thần kinh trung ương gây nên tình trạng kích thích hoặc ức chế toàn phần ở bán cầu đại não. Người nghiện nặng có biểu hiện rối loạn phản xạ thần kinh, đau đầu chóng mặt, trí nhớ giảm sút, viêm dây thần kinh, rối loạn cảm giác, run chân tay, chậm chạp, u sầu, ngại vận động, dễ bị kích động dẫn đến tội ác. Nếu dùng liều cao có thể bị ngộ độc cấp, biểu hiện rối loạn thần kinh nặng, hôn mê.
    + Đối với hệ sinh dục: Không như người ta thường lầm tưởng là dùng ma túy sẽ làm tăng khả năng tình dục. Ở người nghiện ma túy, khả năng tình dục suy giảm một cách rõ rệt, và hậu quả này vẫn tồn tại sau khi ngưng dùng thuốc một thời gian khá lâu.
    Ngoài những tác hại đã kể trên, người dùng ma túy còn phải chịu những tác hại khác như: hoại tử tế bào gan, ảo thính, ảo thị,...
    + Nghiện ma túy làm mất khả năng lao động, học tập; làm hệ thần kinh bị tổn hại dần đến thoái hóa nhân cách, rối loạn hành vi, dễ vi phạm pháp luật.
    + Tiêm, chích ma túy, dùng chung bơm kim tiêm không tiệt trùng dẫn đến lây nhiễm viêm gan vi rút B, C, đặc biệt là lây nhiễm HIV.
    + Dùng ma túy quá liều có thể dẫn đến cái chết.
    - Đối với gia đình người nghiện
    + Nghiện ma túy làm hao tổn tiền bạc của bản thân và gia đình. Nhu cầu cần tiền để mua ma túy của người nghiện là rất lớn, mỗi ngày ít nhất từ 50.000 - 100.000 đồng thậm chí 1.000.000 - 2.000.000 đồng/ngày. Để có tiền sử dụng ma túy, nhiều người đã trộm cắp tài sản của gia đình, cướp của, thậm chí giết người thân...
    + Sức khỏe thể chất, tinh thần của các thành viên khác trong gia đình có người nghiện bị giảm sút do lo lắng, mặc cảm, ăn không ngon, ngủ không yên...
    + Gây tổn thất về tình cảm: Thất vọng, buồn khổ, hạnh phúc gia đình tan vỡ, ly thân, ly hôn, con cái không ai chăm sóc...
    + Gia đình tốn thời gian, chi phí chăm sóc và điều trị các bệnh của người nghiện ma túy.
    - Đối với xã hội
    + Nghiện ma túy không chỉ làm thiệt hại một khoản kinh tế rất lớn cho bản thân người nghiện, gia đình của người nghiện mà còn ảnh hưởng đến xã hội. Chỉ tính riêng 200 nghìn người nghiện ma túy ở Việt Nam mỗi năm đã làm thiệt hại trực tiếp từ việc họ sử dụng ma túy khoảng 7.340 tỷ đồng và 200 nghìn người không còn khả năng làm ra của cải đóng góp cho xã hội, chưa kể một khoản kinh phí rất lớn khác mà nhà nước phải đầu từ cho các hoạt động phòng, chống ma túy như: phòng ngừa, đấu tranh, truy tố, xét xử tội phạm về ma túy; cai nghiện phục hồi, v.v...
    + Để có tiền sử dụng ma túy, hàng vạn người nghiện đã phạm tội trộm cắp, cướp của, giết người, hành nghề mại dâm; tàng trữ, buôn bán ma túy...; do bị kích thích sau khi sử dụng chất ma túy, nhiều người đã phạm các tội về gây rối trật tự công cộng, giết người, hủy hoại tài sản, tự sát, hiếp dâm, đua xe trái phép, vi phạm luật lệ giao thông, gây hậu quả nghiêm trọng, gây mất trật tự an toàn xã hội và làm gia tăng các tệ nạn xã hội.
    + Ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc.
    + Làm giảm sút sức lao động trong xã hội. Tăng chi phí xã hội cho các hoạt động ngăn ngừa, khắc phục, giải quyết các hậu quả do ma túy gây nên. Ma túy còn là nguồn gốc, là điều kiện nảy sinh, lan truyền đại dịch HIV/AIDS (một hiểm họa toàn cầu chưa có thuốc chữa).
    + Ảnh hưởng đến giống nòi: Do chất ma túy ảnh hưởng đến hệ thống hoocmon sinh dục, làm giảm nhu cầu tình dục, gây ảnh hưởng đến quá trình phân bào hình thành các giao tử, tạo cơ hội cho các gien độc có điều kiện hoạt hóa, làm giảm khả năng sinh con hoặc sinh con ốm yếu, chậm phát triển về thể lực và trí tuệ, suy yếu nòi giống.
    6/ Phòng ngừa lạm dụng chất ma túy
    Phòng ngừa lạm dụng chất ma túy được xem là một quá trình gồm tổng thể các giải pháp giảm cung, giảm cầu và giảm tác hại về ma túy. Theo đó, hoạt động phòng ngừa ma túy càng được tiến hành sớm bao nhiêu thì hiệu quả nó mang lại càng lớn bấy nhiêu.
    Theo kinh nghiệm của những nước có bề dày trong phòng, chống ma túy như Ôxtrâylia, Hoa Kỳ.. .thì đầu tư cho hoạt động phòng ngừa ma túy là một hoạt động luôn mang lại hiệu suất cao. Các nghiên cứu về hiệu quả đầu tư cho công tác phòng ngừa ma túy ở Ôxtrâylia cho thấy, một Đô la đầu tư cho công tác phòng ngừa ma túy sẽ thu được 19 Đô la lợi nhuận từ việc bảo vệ được sức khỏe, khả năng lao động, giảm chi phí đấu tranh và bảo hiểm y tế do những người này không sử dụng ma túy.
    Phòng, ngừa việc lạm dụng ma túy được phân ra làm ba cấp độ, gồm: phòng ngừa ban đầu; phòng ngừa đặc biệt và nhóm giải pháp phòng ngừa dành cho các nhóm đối tượng đã mắc nghiện.
    - Đối với nhóm hoàn toàn chưa liên quan gì đến ma túy thì việc phòng ngừa ban đầu được xem là tối ưu nhất. Thông qua các hoạt động truyền thông đại chúng như báo chí, truyền hình, báo mạng điện tử... hoạt động phòng ngừa ban đầu sẽ cung cấp những thông tin mang tính cảnh báo về tác hại của hành vi lạm dụng ma túy. Những thông tin về tác hại của ma túy sẽ rất có ý nghĩa bởi lẽ, ở giai đoạn này, trong tình trạng chưa có bất kỳ mối liên hệ nào với ma túy thì những cảnh báo (ví dụ dùng ma túy bị loạn thần, điên, bị lây nhiễm HIV/AIDS, hủy hoại nòi giống...) sẽ có tác dụng giúp mọi người tỉnh táo để đưa ra các quyết định đúng đắn khi phải đối mặt với các khó khăn trong cuộc sống.
    - Đối với nhóm đối tượng có nguy cơ sử dụng ma túy cao như: trẻ em đường phố, các học sinh có học lực sa sút, trẻ em ham chơi điện tử, con cái gia đình có tiền sử sử dụng ma túy, v.v... lại cần các chương trình riêng, phù hợp với tâm lý, hoàn cảnh từng nhóm cụ thể để đáp ứng tốt hơn nhu cầu phòng ngừa của từng nhóm. Đối những nhóm này cần có sự nghiên cứu kỹ hoàn cảnh xuất thân, các diễn biến phức tạp về tâm lý do hoàn cảnh gia đình, xã hội để lại để tiến hành các can thiệp về tâm lý phù hợp. Vì đây là nhóm đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt nên nếu đơn thuần áp dụng các giải pháp như trong hoạt động phòng ngừa ban đầu sẽ ít tác dụng. Bởi lẽ các đối tượng trong nhóm này ít tham gia các hoạt động xã hội thông thường, không có nhiều cơ hội để tiếp cận các thông tin trên báo, đài, ti vi do đó không tiếp nhận các thông tin như những người bình thường khác. Ngoài ra, là những đối tượng cá biệt, họ cần có những cách can thiệp đặc biệt (thường thông qua tư vấn nhóm nhỏ, truyền thông nhóm, truyền thông liên cá nhân theo từng chuyên đề riêng) mới có thể giúp thay đổi thói quen, nhận thức. Điều quan trọng trong các chương trình phòng ngừa cho nhóm đối tượng có nguy cơ cao là các kỹ năng sửa đổi hành vi lệch lạc về nhận thức, các kỹ năng nhận ra khuyết điểm để từ đó thiết lập một lối sống lành mạnh. Tóm lại, việc giáo dục các kỹ năng sống nói chung, các kỹ năng từ chối sự cám dỗ của ma túy nói riêng là yếu tố quyết định trong việc phòng ngừa cho nhóm này.
    - Đối với nhóm đã lệ thuộc vào ma túy thì song song với việc điều trị phục hồi, các hoạt động phòng ngừa lại chủ yếu tập trung vào việc giúp họ hạn chế các tác hại do hành vi sử dụng ma túy gây ra. Các can thiệp giúp họ tiếp tục duy trì khả năng lao động, hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật, tránh bị lây nhiễm các bệnh lây triền qua đường máu, tránh bị sốc ma túy mà ngày nay chúng ta quen gọi là các biện pháp can thiệp giảm tác hại về ma túy - nhiệm vụ trọng tâm trong công tác phòng ngừa.
    III. Cai nghiện ma túy và phòng ngừa tái nghiện ma túy
    1/ Nhận thức chung về cai nghiện ma túy
    - Khái niệm cai nghiện ma túy: Cai nghiện ma túy hay nói đúng hơn là điều trị nghiện là một quá trình lâu dài, bao gồm tổng thể các can thiệp hỗ trợ về y tế, tâm lý, xã hội làm thay đổi nhận thức, hành vi nhằm làm giảm tác hại của nghiện ma túy và giảm tình trạng sử dụng ma túy trái phép, thông qua các công việc đang được các cơ sở điều trị tập trung tiến hành như: tiếp nhận, phân loại, cắt cơn, giải độc, tư vấn cho người nghiện, cho gia đình người nghiện, hướng nghiệp, dạy nghề, chăm sóc sau cai kết hợp các giải pháp phòng, chống tái nghiện.
    Cai nghiện ma túy là một hoạt động mang tính nhân văn rất cao vì thông qua hoạt động này giúp người nghiện từ bỏ việc sử dụng ma túy, đồng nghĩa với việc giúp họ tăng cường sức khỏe, giảm các hành vi vi phạm pháp luật, cải thiện các mối quan hệ xã hội thông qua việc tăng cường các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng tái hòa nhập cộng đồng.
    - Nội dung cai nghiện ma túy: Cai nghiện ma túy là một quá trình, bao gồm các giai đoạn cơ bản sau (Các giai đoạn này phải được thực hiện kế tiếp, liên tục trong thời gian từ 2 - 3 năm):
    + Cắt cơn, giải độc;
    + Phục hồi sức khỏe, tâm sinh lý và giáo dục lối sống;
    + Giai đoạn dạy nghề và tạo việc làm;
    + Giai đoạn giám sát, tư vấn, quản lý tại cộng đồng; phòng, chống tái nghiện.
    - Hoàn thành cai nghiện: Cai nghiện ma túy được coi là thành công khi người cai nghiện phải đạt được 4 yếu tố:
    + Không tái sử dụng ma túy;
    + Có lối sống lành mạnh, tự quản lý được bản thân;
    + Thực hiện thành công sự thay đổi về nhận thức;
    + Phục hồi được hệ thống não bộ đã bị tổn thương, nhiễm độc vì ma túy.
    2/ Một số phương pháp điều trị cai nghiện ma túy đang được áp dụng tại Việt Nam
    Từ năm 1995, Bộ Y tế Việt Nam đã thông qua và cho phép sử dụng một số phương pháp điều trị cai nghiện ma túy sau:
    - Dùng các thuốc hướng tâm thần: Phương pháp này đã được Bộ Y tế Việt Nam ban hành và áp dụng từ năm 1995, bằng cách dùng các thuốc giải lo âu (di-azepam), thuốc an thần kinh (tisercin, nozinan) và các thuốc chống trầm cảm (meliplamin, amitriptylin) cắt cơn trong vòng 7- 10 ngày. Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, rẻ tiền, dễ áp dụng, tuy nhiên nhiều tác dụng phụ, người bệnh vật vã nhiều, các triệu chứng dị cảm, dòi bò và rối loạn tiêu hóa.
    - Dùng thuốc Đông y: Thuốc Đông y có nguồn gốc từ thảo dược, có tính an toàn, không độc, có hiệu lực trong hỗ trợ cắt cơn nghiện ma túy, quá trình cắt cơn êm dịu, thuốc có khả năng bình ổn các triệu chứng của hội chứng cai, như là triệu chứng dị cảm và thèm ma túy. Hiện nay có 2 loại thuốc Đông y đã được Bộ Y tế cho phép lưu hành trong các trung tâm cai nghiện, đó là thuốc Cedemex và thuốc Bông sen.
    - Phương pháp điện châm: Dùng điện châm, ngày châm nhiều lần tùy thuộc vào trạng thái đói thuốc của bệnh nhân. Phương pháp điện châm điều trị hỗ trợ cai nghiện ma túy đã được Bộ Y tế ban hành vào năm 2003. Phương pháp điện châm không chỉ cắt cơn nghiện cho bệnh nhân mà hiệu quả điều trị còn kéo dài, qua đánh giá sau một số năm người nghiện vẫn không tái nghiện (tỷ lệ tái nghiện vào khoảng 10 - 15%). Điện châm có ưu điểm cắt cơn nhanh, ít tốn kém, dễ thực hiện tại tuyến cơ sở.
    - Phương pháp điều trị bằng chất thay thế: Trên thế giới, các chất để điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện, như methadone, buprenophin, LAAM.... Trong đó, methadone là loại thuốc chính được sử dụng trong phương pháp điều trị cai nghiện thay thế các chất dạng thuốc phiện. Ở Việt Nam, Viện Sức khỏe tâm thần Trung ương đã tiến hành triển khai nghiên cứu và thử nghiệm điều trị thay thế bằng methadone từ cuối năm 1996. Đến tháng 10/2015, nước ta đang triển khai điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện tại 55 tỉnh, thành phố, với 218 cơ sở và điều trị cho hơn 40.200 người. Tại Bình Thuận hiện có 4 cơ sở và 1 điểm uống methadone điều trị cho hơn 800 người.
    - Phương pháp dùng thuốc đối kháng: Phương pháp dùng thuốc đối kháng naltrexone điều trị duy trì hỗ trợ chống tái nghiện các chất dạng thuốc phiện, đã được áp dụng tại một số quốc gia trên thế giới. Phương pháp này có ưu điểm là làm cho bệnh nhân chán chất ma túy nhưng có nhược điểm là lên cơn vật vã, bứt rứt, khó chịu, táo bón, độc với gan và thận, có thể gây sốc thuốc khi bệnh nhân vẫn sử dụng chất ma túy. Hiện nay, có 2 biệt dược đã được Bộ Y tế cho phép sử dụng để điều trị duy trì chống tái nghiện các chất dạng thuốc phiện đó là: thuốc danapha- natrex 50 và thuốc albernil.
    3/ Tái nghiện ma túy
    Tái nghiện ma túy là hiện tượng của một người nghiện ma túy sau khi được điều trị cai nghiện lại sử dụng các chất ma túy.
    - Phân biệt giữa tái sử dụng và tái nghiện ma túy:
    + Tái sử dụng: Trong một số trường hợp nhất định, người có tiền sử sử dụng ma túy đã được cai và không sử dụng lại ma túy trong một thời gian dài nhưng do thiếu sự kiềm chế nên đã sử dụng lại một vài lần. Tuy nhiên, sau đó tự nhận thức ra hoặc được giáo dục mà không tiếp tục sử dụng nữa. Đó chỉ được coi là tái sử dụng.
    + Tái nghiện: Tái nghiện ma túy là một quá trình, có khi nó được bắt đầu từ trong suy nghĩ và xảy ra cả trước khi người đó tiếp xúc và sử dụng lại ma túy, sau đó tiếp tục lệ thuộc vào chất ma túy.
    Trước khi tái nghiện, người nghiện trải qua một quá trình đấu tranh tư tưởng được bộc lộ qua những triệu chứng, những dấu hiệu nguy cơ quay trở lại với ma túy. Đó là khi có những cảm giác thèm ma túy, những suy nghĩ, giằng xé nội tâm của họ và nếu họ đầu hàng, buông xuôi, tái nghiện sẽ xảy ra.
    4/ Nguyên nhân dẫn đến tái nghiện ma túy
    Xuất phát từ bản chất nghiện ma túy là một bệnh mãn tính nên việc tái nghiện là rất dễ xảy ra. Đồng thời, những khoái cảm do ma túy mang lại rất mạnh và luôn đeo đẳng đối với những người có tiền sử sử dụng chúng và có xu hướng lôi kéo họ trở lại những trải nghiệm đã có trước đây. Chính vì vậy, nguyên nhân tái nghiện có thể chia thành hai nhóm đặc tính là: nội tâm bệnh nhân và những quan hệ cá nhân của đối tượng hoặc do sự kết hợp của cả hai nhóm đặc tính này, cụ thể là:
    - Về cảm xúc: Do hoàn cảnh sống, bệnh nhân nếu bị trầm cảm hay hưng phấn. Hai trạng thái này đều dễ dẫn đến tái nghiện.
    - Về hành vi: Người nghiện thường thiếu kỹ năng xử tình huống. Họ dễ bị lôi cuốn khi gặp bạn bè cũ, những tình huống nguy cơ. Đồng thời, trong khoảng thời gian nghiện ngập đã tạo cho bệnh nhân một phản xạ xấu: thấy ma túy là sử dụng (tính bốc đồng khi có cơ hội).
    - Về nhận thức: có một số nguyên nhân sau:
    + Kém nhiệt tình học tập trong quá trình điều trị.
    + Không tin rằng mình có khả năng đoạn tuyệt với ma túy.
    + Có thương tổn trong não, không còn khả năng tiếp thu điều trị.
    - Về môi trường và quan hệ cá nhân:
    + Thiếu hỗ trợ của gia đình và xã hội;
    + Bị áp lực của bạn bè xấu;
    + Thất nghiệp hay lâm vào hoàn cảnh khó khăn;
    + Để thời gian nhàn rỗi quá nhiều.
    - Về mặt sinh lý học:
    + Không thắng được cảm giác thèm thuốc;
    + Có bệnh đau mãn tính.
    - Về mặt tâm thần, tâm linh:
    + Có mặc cảm tội lỗi, xấu hổ âm thầm trong nội tâm không xóa được;
    + Cảm giác trống rỗng chẳng có mục đích ý nghĩa gì
    - Về tác động từ quá trình cai nghiện:
    + Nhân viên điều trị đã gây ra ấn tượng xấu vào tâm trí bệnh nhân.
    + Kế hoạch điều trị không thích ứng.
    + Kế hoạch theo dõi sau cai chưa đầy đủ.
    5/ Phòng, chống tái nghiện
    - Mục tiêu của phòng, chống tái nghiện:
    + Trang bị cho người nghiện kỹ năng vượt qua cảm giác thèm thuốc;
    + Trang bị cho người nghiện khả năng xử lý tình huống nguy cơ cao;
    + Chuẩn bị tinh thần đối phó với tình huống có thể bị sa ngã khi có thời cơ như thấy có ma túy trong tầm tay.
    - Nội dung phòng, chống tái nghiện:
    Xuất phát từ đặc điểm của nghiện ma túy và tái nghiện ma túy, nội dung phòng, chống tái nghiện cần phải kết hợp hài hòa giữa quản lý bệnh nhân bằng các dịch vụ y tế cùng các liệu pháp tâm lý - giáo dục, thỏa mãn mọi yêu cầu điều trị của đối tượng. Nội dung kế hoạch phòng, chống tái nghiện phải được đề ra trên cơ sở độ tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, quan hệ gia đình của người nghiện (cha, mẹ, vợ, chồng, con), hoàn cảnh, công ăn việc làm, cũng như tiền sử sử dụng ma túy và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.
    Quá trình phòng, chống tái nghiện phải được tiến hành dài ngày với những biện pháp khác nhau theo từng giai đoạn. Việc xây dựng cho người nghiện sau cai có quyết tâm cao từ bỏ ma túy, kiềm chế cảm xúc không để rơi vào các trạng thái quá bị kích động chính là một trong các biện pháp giúp giảm tỷ lệ tái nghiện. Để có thể giúp người nghiện sau cai giải toả các vướng mắc trong cuộc sống như quan hệ gia đình, người thân, tìm kiếm việc làm nhằm ổn định cuộc sống đòi hỏi cần phải có sự hỗ trợ thường xuyên tích cực từ cộng đồng và gia đình, đặc biệt là các biện pháp chống kỳ thị, phân biệt đối xử; thường xuyên động viên, giúp họ tái hòa nhập cộng đồng, xa lánh môi trường, mối quan hệ dễ để họ gợi nhớ quá khứ của mình. Để làm được những nội dung này, cộng đồng, gia đình của người nghiện sau cai cần:
    + Giúp bệnh nhân xác định được nguyên nhân dẫn dắt họ đi vào ma tuý;
    + Tìm ra những yếu tố là nguy cơ dẫn đến tái nghiện của bệnh nhân và giúp họ học tập khả năng vượt qua chúng.
    + Giúp cho bệnh nhân hiểu rằng tái nghiện là một quá trình xảy ra trong nội tâm bệnh nhân và cuối cùng dẫn đến là một hành vi tái sử dụng.
    + Giúp bệnh nhân hiểu được tại sao có cảm giác thèm thuốc trong tư tưởng và học tập để vượt qua cảm giác ấy.
    + Giúp bệnh nhân hiểu và có thể đương đầu với áp lực của bạn bè cũ, nhóm bạn xấu muốn họ tái nghiện.
    + Giúp bệnh nhân có một tổ chức hỗ trợ.
    + Nếu bệnh nhân bị vui hay buồn quá độ, giúp họ nhận ra tình trạng bất thường ấy để tìm cách vượt qua.
    + Nếu bệnh nhân có những nhận thức sai lạc, giúp họ cách xử lý chúng.
    + Giúp bệnh nhân hướng tới một lối sống điều độ, cân bằng.
+ Giúp bệnh nhân tự xây dựng cho mình những biện pháp phòng chống sa ngã và tái nghiện.
PHẦN II: QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG MA TÚY VÀ TRÁCH NHIỆM PHÒNG, CHỐNG MA TÚY CỦA CÁ NHÂN, GIA ĐÌNH, CƠ QUAN, TỔ CHỨC
    I. Quan điểm chỉ đạo đối với công tác phòng, chống ma túy
    Trong những năm qua, trước diễn biến phức tạp của tình hình tệ nạn ma tuý, các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống ma tuý, cụ thể là:
    Ban Bí thư Trung ương Đảng đã chỉ đạo các tỉnh uỷ, thành uỷ; Ban cán sự đảng các bộ, ngành, đoàn thể tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 30/11/1996 của Bộ Chính trị (khoá VIII) về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy từ cơ sở; tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 06-CT/TW. Trên cơ sở kết quả tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 06-CT/TW, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 26/3/2008 về tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma tuý trong tình hình mới; Ban Bí thư Trung ương Đảng sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW và ban hành Kết luận số 95-KL/TW ngày 02/4/2014 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 26/3/2008 về tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới.
    Các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể từ Trung ương đến cơ sở đã tích cực lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc theo đúng yêu cầu, nhiệm vụ nêu trong Chỉ thị số 21-CT/TW và Kết luận số 95-KL/TW bằng nhiều hình thức khác nhau, đồng thời đưa nội dung chỉ đạo công tác phòng, chống ma túy vào chương trình công tác của các cấp uỷ đảng; chỉ đạo rà soát, xem xét, kết luận đảng viên có liên quan đến ma tuý; ban hành quy định về trách nhiệm và xử lý trách nhiệm đối với cán bộ, đảng viên, người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền để xảy ra tình hình tệ nạn ma túy phức tạp, kéo dài ở địa phương, đơn vị do mình phụ trách.
    - Chính phủ ban hành Nghị quyết số 98/NQ-CP ngày 26/12/2014 về tăng cường chỉ đạo công tác phòng, chống, kiểm soát và cai nghiện ma túy trong tình hình mới.
    - Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Chiến lược quốc gia phòng, chống và kiểm soát ma tuý ở Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030" (tại Quyết định số 1001/QĐ-TTg ngày 27/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ).
    Để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn công tác phòng, chống ma túy, Quốc hội thông qua các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực phòng, chống ma tuý như: Luật hình sự năm 2015 (Chương XX: Các tội phạm về ma tuý, gồm 13 điều từ Điều 247 đến Điều 259); Luật phòng, chống ma túy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý; Luật xử lý vi phạm hành chính...
    Các Bộ: Công an, Lao động - Thương binh và Xã hội, Y tế, Tư pháp... xây dựng, trình Chính phủ, Thủ tướng chính phủ ký ban hành trên 40 văn bản pháp luật (gồm các Chỉ thị, Nghị định, Quyết định,...), đồng thời ban hành trên 10 Thông tư, Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện công tác phòng, chống ma túy trên các lĩnh vực như: đấu tranh phòng, chống tội phạm; cai nghiện ma tuý; chế độ, chính sách đối với công tác phòng, chống ma túy nói chung, cai nghiện phục hồi cho người nghiện ma tuý nói riêng; công tác quản lý và kiểm soát tiền chất...
    Tổng hợp nội dung các văn bản trên, có thể khái quát quan điểm chỉ đạo chung của Đảng, Chính phủ đối với công tác phòng, chống và kiểm soát ma tuý là:
    - Thứ nhất, Công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy phải được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của các cấp uỷ Đảng, sự quản lý của chính quyền các cấp, trong đó lực lượng Công an nhân dân là nòng cốt.
    - Thứ hai, Phòng, chống và kiểm soát ma túy là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, vừa cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục và lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ, quyết tâm và cần có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của các cấp, các ngành và các tổ chức chính trị - xã hội. Nội dung công tác phòng, chống và kiểm soát ma tuý phải được lồng ghép với việc thực hiện các Chương trình, Chiến lược quốc gia có liên quan.
    - Thứ ba, Đầu tư cho công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy là đầu tư cho sự phát triển bền vững của đất nước. Nhà nước bảo đảm việc huy động nguồn lực công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy phù hợp với khả năng và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn, đồng thời huy động sự đóng góp của cộng đồng và tài trợ của quốc tế.
    - Thứ tư, Kết hợp chặt chẽ giữa phòng và chống, giữa giảm cung, giảm cầu và giảm tác hại. Coi trọng công tác phòng, chống ma túy từ gia đình, tổ dân phố, khu dân cư, xã, phường, thị trấn, cơ quan, xí nghiệp, trường học, tập trung vào nhóm đối tượng có hành vi nguy cơ cao.
    - Thứ năm, Đẩy mạnh xã hội hoá công tác phòng, chống và kiểm soát ma tuý trên cơ sở huy động sự tham gia tích cực của các ngành, các đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các thành phần kinh tế, các tổ chức phi chính phủ và của tất cả công dân.
    - Thứ sáu, Tăng cường hợp tác quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế trong phòng, chống và kiểm soát ma tuý.
    II. Trách nhiệm phòng, chống ma túy
    1/ Trách nhiệm của cá nhân, gia đình
    - Giáo dục thành viên trong gia đình, thân nhân về tác hại của ma tuý và thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống ma tuý; quản lý không để thành viên trong gia đình tham gia tệ nạn ma tuý.
    - Thực hiện đúng chỉ định của thầy thuốc về sử dụng thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần để chữa bệnh.
    - Đấu tranh với các hành vi trái phép về ma tuý của thân nhân và của người khác.
    - Phát hiện, cung cấp nhanh chóng các thông tin về tệ nạn ma tuý cho cơ quan công an hoặc cơ quan khác có thẩm quyền.
    - Tham gia, hỗ trợ hoạt động cai nghiện ma tuý tại các cơ sở cai nghiện và tại cộng đồng; theo dõi, giúp đỡ người đã cai nghiện ma tuý hoà nhập cộng đồng; phòng, chống tái nghiện.
    - Phát hiện, báo cáo kịp thời cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền việc trồng cây có chứa chất ma tuý; tham gia triệt phá cây có chứa chất ma tuý do chính quyền địa phương tổ chức.
    2/ Trách nhiệm của người nghiện ma túy
    - Tự khai báo về tình trạng nghiện ma túy của mình với cơ quan, tổ chức nơi làm việc hoặc UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú và tự đăng ký hình thức cai nghiện ma túy.
    - Tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về cai nghiện ma túy.
    - Trong thời gian cai nghiện bắt buộc, người nghiện ma túy có trách nhiệm tuân thủ nội quy và chịu sự quản lý, giáo dục của cơ sở cai nghiện bắt buộc; lao động, học tập, chữa bệnh để cai nghiện và góp phần đảm bảo đời sống trong thời gian cai nghiện.
    3/ Trách nhiệm của gia đình có người nghiện ma túy
    - Khai báo với Ủy ban nhân dân cấp xã về người nghiện ma túy trong gia đình mình và đăng ký cai nghiện cho người đó.
    - Động viên, giúp đỡ và quản lý người nghiện cai nghiện tại gia đình theo sự hướng dẫn, giám sát của cán bộ y tế và Ủy ban nhân dân cấp xã.
    - Theo dõi, giám sát, phòng ngừa, ngăn chặn người nghiện sử dụng trái phép chất ma túy hoặc có hành vi gây mất trật tự, an toàn xã hội.
    - Hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện và đóng góp kinh phí cai nghiện theo quy định của pháp luật.
    4/ Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tồ chức thành viên, các tổ chức khác
    - Tổ chức và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tuyên truyền, giáo dục nhân dân kiến thức, pháp luật về phòng, chống ma tuý; xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, văn minh.
    - Phòng ngừa, ngăn chặn người của tổ chức mình và mọi công dân tham gia tệ nạn ma tuý.
    - Giám sát hoạt động phòng, chống ma tuý ở cơ quan, nhà trường, các cơ sở giáo dục khác và địa bàn dân cư.
    - Phối hợp với chính quyền các cấp, các cơ quan có thẩm quyền để vận động cai nghiện ma tuý; tham gia giáo dục, dạy nghề, tìm việc làm và giúp đỡ người đã cai nghiện ma tuý hoà nhập cộng đồng; phòng, chống tái nghiện.
    5/ Trách nhiệm của cơ quan, cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân
    - Tổ chức phòng, chống ma tuý ở cơ quan, tổ chức, đơn vị mình.
    - Phòng ngừa, ngăn chặn cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân tham gia tệ nạn ma tuý; phát hiện, cung cấp nhanh chóng các thông tin về tệ nạn ma tuý cho cơ quan công an hoặc cơ quan khác có thẩm quyền.
    - Phát hiện, báo cáo kịp thời cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền việc trồng cây có chứa chất ma tuý; tham gia triệt phá cây có chứa chất ma tuý do chính quyền địa phương tổ chức.
    - Tuyên truyền, động viên cán bộ, công chức và cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và nhân dân phát hiện, tố giác, đấu tranh với tệ nạn ma tuý.
    6/ Trách nhiệm của nhà trường và các cơ sở giáo dục khác
    - Tổ chức thực hiện chương trình giáo dục về phòng, chống ma tuý; giáo dục pháp luật về phòng, chống ma tuý và lối sống lành mạnh cho học sinh, sinh viên, học viên; quản lý chặt chẽ, ngăn chặn học sinh, sinh viên, học viên tham gia tệ nạn ma tuý.
    - Phối hợp với gia đình, cơ quan, tổ chức và chính quyền địa phương để quản lý, giáo dục học sinh, sinh viên, học viên về phòng, chống ma tuý.
    - Phối hợp với cơ quan y tế và chính quyền địa phương tổ chức xét nghiệm khi cần thiết để phát hiện học sinh, sinh viên, học viên nghiện ma tuý.
    7/ Trách nhiệm của các cơ quan thông tin, tuyên truyền
Phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân tổ chức tuyên truyền, giáo dục để nhân dân nhận thức rõ về tác hại của ma tuý; chủ trương, chính sách, pháp luật, biện pháp của Nhà nước về phòng, chống ma tuý.

Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh

Các tin tiếp
Bổ sung đối tượng áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc   (1/11/2016)
TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG MA TÚY   (5/10/2016)
Tài liệu tuyên truyền phòng chống ma túy   (3/12/2015)
Chương trình tuyên truyền phòng chống ma túy   (24/12/2014)
Tài liệu tuyên truyền luật phòng, chống ma túy năm 2014   (19/12/2014)
1